Thuế và hóa đơn của Hộ kinh doanh giữa Việt Nam và Trung Quốc có gì khác biệt?

Tác giả Lê Huy Thành
Founder and CEO
TikTok

 

 

Từ kỳ tính thuế 2026, Việt Nam đã đưa biểu thuế suất của hộ kinh doanh về đúng bằng thuế thu nhập doanh nghiệp – cùng ngưỡng miễn 1 tỷ đồng, cùng ba mức 15% – 17% – 20% theo cùng mốc doanh thu. Nhưng đồng bộ thuế suất chưa phải là trung lập: cơ sở tính thuế của hai hình thức vẫn khác nhau ở ba điểm, và điểm lớn nhất trong đó không nằm trong chính sách thuế hộ kinh doanh mà nằm ở Luật Thuế Giá trị gia tăng.

Ba kết luận cần nhớ

  1. Méo mó còn lại là quyền khấu trừ, không phải mức thuế. Khoản 2 Điều 11 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 cấm hộ kinh doanh áp dụng phương pháp khấu trừ – cấm cả trường hợp tự nguyện đăng ký. Đây là rào cản cấp Luật và là nguyên nhân gốc của mọi bất lợi phía sau.
  2. Vách đá thuế GTGT vẫn còn, và nó là hệ quả của rào cản trên. Vượt 1 tỷ đồng, thuế TNCN chỉ tính trên phần vượt, còn thuế GTGT tính trên toàn bộ doanh thu mà không được bù lại bằng quyền khấu trừ đầu vào như thông lệ VAT quốc tế.
  3. Bài học từ Trung Quốc là kỹ thuật thiết kế, không phải con số. Không nên sao chép ngưỡng 5 triệu NDT, và cũng không nên sao chép chính sách giảm 50% thuế TNCN – nó sẽ phá vỡ đúng sự đồng bộ thuế suất mà Việt Nam vừa thiết lập giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp.
Hộ kinh doanh bán hàng trên phố Hà Nội – đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách thuế hộ kinh doanh 2026
Từ 01/01/2026, hộ kinh doanh Việt Nam chuyển từ thuế khoán sang cơ chế kê khai dựa trên dữ liệu hóa đơn. Ảnh: TuanAnhNgo / Pixabay.

1. Việt Nam sau cải cách: khung pháp lý đã thay đổi về chất

Nhiều phân tích vẫn mô tả hộ kinh doanh Việt Nam như một nhóm “nộp thuế khoán theo tỷ lệ trên doanh thu”. Mô tả đó đã lạc hậu. Từ kỳ tính thuế 2026, khoán không còn là phương pháp mặc định, và tầng cao nhất của khung mới về bản chất là thuế thu nhập doanh nghiệp thu qua thể nhân.

Doanh thu năm Thuế GTGT Thuế TNCN Hóa đơn
≤ 1 tỷ đồng Đối tượng không chịu thuế Không phải nộp Không bắt buộc; được đăng ký tự nguyện
Trên 1 tỷ – 3 tỷ đồng Tỷ lệ % trên toàn bộ doanh thu (1% – 5% theo ngành) Được chọn: tỷ lệ % trên phần doanh thu vượt 1 tỷ, hoặc (doanh thu – chi phí) × 15% Bắt buộc hóa đơn điện tử có mã hoặc từ máy tính tiền
Trên 3 tỷ – 50 tỷ đồng Tỷ lệ % trên toàn bộ doanh thu Bắt buộc (doanh thu – chi phí) × 17% Bắt buộc, kèm sổ kế toán và chứng từ đầu vào
Trên 50 tỷ đồng Tỷ lệ % trên toàn bộ doanh thu Bắt buộc (doanh thu – chi phí) × 20% Bắt buộc, kèm sổ kế toán và chứng từ đầu vào

Nguồn: Điều 7 Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15; Điều 3, Điều 4 Nghị định 68/2026/NĐ-CP; khoản 1 Điều 1 Nghị định 141/2026/NĐ-CP.

Chi tiết dễ tính nhầm: mức trừ 1 tỷ đồng chỉ áp dụng cho phương pháp tỷ lệ % (điểm a khoản 3 Điều 7 Luật 109/2025). Phương pháp thu nhập tại khoản 2 Điều 7 xác định thu nhập tính thuế bằng doanh thu trừ chi phí, không có mức trừ ngưỡng. Khi so sánh hai phương pháp để tìm điểm hòa vốn, bỏ qua điểm này sẽ ra kết quả sai lệch đáng kể ở nhóm doanh thu 1 – 3 tỷ.

Tỷ lệ % trên doanh thu giữ cấu trúc quen thuộc theo khoản 2 Điều 12 Luật Thuế GTGT và khoản 3 Điều 7 Luật Thuế TNCN: phân phối, cung cấp hàng hóa 1% GTGT và 0,5% TNCN; sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu 3% và 1,5%; dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu 5% và 2%; hoạt động khác 2% và 1%. Riêng cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, đại lý bán hàng đa cấp và nội dung thông tin số áp mức TNCN 5%. Cho thuê bất động sản được quy định riêng tại khoản 4 Điều 7: phần doanh thu vượt ngưỡng nhân 5%.

Điểm chưa được nói tới: biểu thuế suất của hộ kinh doanh giờ trùng khớp thuế TNDN

Đặt hai đạo luật cạnh nhau sẽ thấy một thiết kế rất có chủ đích – nhưng cũng thấy ngay phần việc còn dang dở:

Tiêu chí Hộ kinh doanh Doanh nghiệp
Ngưỡng miễn thuế thu nhập Doanh thu năm ≤ 1 tỷ Doanh thu năm ≤ 1 tỷ (miễn TNDN)
Thuế suất trên lợi nhuận 15% / 17% / 20% 15% / 17% / 20%
Mốc phân bậc 3 tỷ và 50 tỷ 3 tỷ và 50 tỷ
Quyền khấu trừ thuế GTGT đầu vào Không, kể cả tự nguyện Có, hoặc tự nguyện đăng ký
Thù lao của chủ sở hữu trực tiếp điều hành Không được trừ Được trừ nếu đủ điều kiện
Chuyển lỗ sang các năm sau Không có quy định cho phép Được, tối đa 5 năm
Tầng thuế khi chủ rút lợi nhuận Một tầng Hai tầng: TNDN, rồi 5% trên lợi tức cổ phần

Nguồn: Điều 10 Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 và khoản 2 Điều 7 Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15; Điều 3 Luật số 09/2026/QH16 và Điều 2 Nghị định 141/2026/NĐ-CP (miễn TNDN cho doanh nghiệp doanh thu ≤ 1 tỷ, không áp dụng cho công ty con và công ty có quan hệ liên kết); khoản 2 Điều 11 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15; điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị định 68/2026/NĐ-CP; Điều 12 Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15.

Ba dòng đầu trùng khớp hoàn toàn – đó là thành quả thật sự của cải cách. Bốn dòng sau cho thấy phần việc còn dang dở, và chúng không cùng chiều nhau. Hộ kinh doanh chịu thiệt ở quyền khấu trừ GTGT, ở việc không được trừ thù lao của chính chủ hộ và các thành viên hộ (điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị định 68/2026), và ở chỗ pháp luật hiện hành không có quy định cho phép chuyển lỗ sang các năm sau như doanh nghiệp. Đổi lại, hộ chỉ chịu một tầng thuế: lợi nhuận sau thuế thuộc về chủ hộ ngay, trong khi chủ doanh nghiệp còn phải chịu thêm 5% khi rút lợi tức cổ phần theo Điều 12 Luật Thuế TNCN.

Vì vậy phát biểu chính xác không phải “hộ kinh doanh và doanh nghiệp đã trung lập về thuế”, mà là: biểu thuế suất đã đồng bộ, cơ sở tính thuế thì chưa. Kết quả ròng phụ thuộc vào từng trường hợp – hộ càng thâm dụng lao động của chính chủ hộ, càng bán nhiều cho doanh nghiệp, và càng có giai đoạn lỗ thì càng bất lợi; hộ bán lẻ thuần túy, lãi đều, chủ hộ không trực tiếp vận hành thì lại có lợi hơn doanh nghiệp cùng quy mô. Đây chính là dư địa cải cách tiếp theo, và bài viết này tập trung vào khoản mục lớn nhất trong ba khoản: quyền khấu trừ thuế GTGT.

Một đính chính cần thiết với cách nói phổ biến rằng “Việt Nam đã xóa bỏ thuế khoán”: chính xác hơn là khoán đã thôi giữ vai trò phương pháp mặc định. Khoản 3 Điều 12 Luật Thuế GTGT 48/2024 vẫn giữ nguyên: hộ, cá nhân kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ thì nộp thuế GTGT theo phương pháp khoán. Khoán chuyển từ phương pháp phổ quát thành cơ chế dự phòng cho nhóm không tuân thủ.

Máy tính tiền in hóa đơn tại cửa hàng bán lẻ – hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền theo Nghị định 254/2026/NĐ-CP
Hóa đơn điện tử từ máy tính tiền là hạ tầng dữ liệu quan trọng nhất của cải cách. Ảnh: AS_Photography / Pixabay.

Về hóa đơn, Nghị định 254/2026/NĐ-CP (hiệu lực 01/7/2026, thay thế Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Nghị định 70/2025/NĐ-CP) quy định tại điểm d khoản 1 Điều 6: hộ kinh doanh có doanh thu năm trên 1 tỷ đồng, hoặc bán tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, thì phải dùng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử từ máy tính tiền. Điểm c cùng khoản xác định hình thức máy tính tiền cho các hoạt động bán trực tiếp đến người tiêu dùng: trung tâm thương mại, siêu thị, bán lẻ (trừ ô tô, mô tô, xe máy), ăn uống, nhà hàng, khách sạn, vận tải hành khách, dịch vụ hỗ trợ trực tiếp vận tải đường bộ, nghệ thuật, vui chơi giải trí, chiếu phim và dịch vụ phục vụ cá nhân khác. Thời hạn đăng ký khi vượt ngưỡng giữa năm là 30 ngày kể từ ngày cuối cùng của kỳ tính thuế có doanh thu lũy kế trên 1 tỷ đồng (điểm c khoản 5 Điều 8 Nghị định 68/2026, sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Nghị định 141/2026). Loại hóa đơn hộ kinh doanh phát hành là hóa đơn bán hàng – không có dòng thuế GTGT để bên mua khấu trừ.

2. Trung Quốc quản lý hộ cá thể bằng ba lớp chính sách

Từ 01/01/2026, Luật Thuế Giá trị gia tăng của Trung Quốc chính thức có hiệu lực, nâng cơ chế VAT từ cấp văn bản dưới luật lên cấp luật. Cùng thời điểm, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế ban hành Công bố số 10 năm 2026 để nối tiếp các chính sách ưu đãi. Kết quả là một cấu trúc ba lớp rất khác cách tiếp cận của Việt Nam.

Lớp chính sách Nội dung Quy đổi tham chiếu
Phân loại người nộp thuế Doanh thu chịu VAT ≤ 5 triệu NDT/năm là “người nộp thuế quy mô nhỏ” (小规模纳税人), tính VAT theo mức thu đơn giản 3%; vượt ngưỡng chuyển sang phương pháp khấu trừ với thuế suất 13%/9%/6% ≈ 19,4 tỷ VND/năm
Ngưỡng miễn theo kỳ Miễn VAT nếu doanh thu ≤ 100.000 NDT/tháng hoặc 300.000 NDT/quý; nộp theo lần thì ngưỡng 1.000 NDT/lần (nâng từ 500 NDT) ≈ 388 triệu VND/tháng; ≈ 1,16 tỷ VND/quý
Giảm thuế có thời hạn Từ 01/01/2026 đến 31/12/2027: mức thu 3% giảm còn 1% (trừ bán, cho thuê bất động sản và chuyển nhượng quyền sử dụng đất). Hộ cá thể được giảm 50% thuế TNCN với phần thu nhập chịu thuế ≤ 2 triệu NDT/năm, đến 31/12/2027 2 triệu NDT ≈ 7,76 tỷ VND

Nguồn: Luật Thuế GTGT Trung Quốc (hiệu lực 01/01/2026) và Điều lệ thi hành; Công bố Bộ Tài chính – Tổng cục Thuế số 10/2026 ngày 30/01/2026; Công bố số 12/2023. Tỷ giá quy đổi minh họa 1 NDT ≈ 3.880 VND, chỉ để hình dung quy mô, không tạo ngưỡng pháp lý tương đương.

Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập kinh doanh của hộ cá thể Trung Quốc áp dụng biểu lũy tiến năm bậc từ 5% đến 35% trên thu nhập sau khi trừ chi phí. Chính sách giảm 50% áp dụng cho cả trường hợp kê khai theo sổ sách (查账征收) lẫn ấn định (核定征收), không cần thủ tục đăng ký, tự kê khai trên tờ khai.

Đáng chú ý, Trung Quốc vẫn duy trì ấn định định kỳ định mức (定期定额) như một lựa chọn thông thường cho hộ siêu nhỏ, trong khi Việt Nam đã đẩy khoán xuống vai trò dự phòng. Cải cách của Trung Quốc đi theo hướng siết dần khâu kê khai và phổ cập hóa đơn điện tử toàn phần (数电票, triển khai toàn quốc từ 01/12/2024) thay vì thay đổi phương pháp tính thuế một lần.

Thanh toán quét mã QR tại cửa hàng nhỏ ở Trung Quốc – hạ tầng dữ liệu giao dịch phục vụ quản lý thuế hộ cá thể
Trung Quốc quản lý hộ cá thể bằng dữ liệu thanh toán và hóa đơn số trước, rồi mới siết phương pháp tính thuế. Ảnh: viarami / Pixabay.

3. Ba khác biệt có ý nghĩa chính sách

3.1. Ngưỡng theo năm tạo vách đá lớn, ngưỡng theo kỳ tạo vách đá nhỏ

Ngưỡng 1 tỷ đồng của Việt Nam là ngưỡng năm. Một hộ đến tháng 11 mới biết mình vượt ngưỡng thì đã phát sinh nghĩa vụ cho cả năm. Ngưỡng của Trung Quốc theo kỳ tính thuế: vượt tháng nào nộp tháng đó, tháng sau doanh thu giảm thì lại được miễn.

Cần nói cho công bằng rằng cơ chế theo kỳ không phải không có nhược điểm. Khi doanh thu tháng vượt 100.000 NDT, toàn bộ doanh thu tháng đó chịu thuế chứ không riêng phần vượt – tức vẫn là vách đá, chỉ nhỏ hơn và lặp lại hằng tháng. Nó cũng tạo động cơ dàn đều doanh thu giữa các tháng để luôn nằm dưới ngưỡng. Ưu điểm thật sự của mô hình này là giới hạn thiệt hại của một lần vượt ngưỡng trong phạm vi một kỳ, chứ không phải xóa được vách đá.

Bất đối xứng cần lưu ý: hộ có doanh thu 1,2 tỷ đồng ngành phân phối hàng hóa nộp thuế TNCN trên phần vượt – (1,2 tỷ – 1 tỷ) × 0,5% = 1 triệu đồng. Nhưng thuế GTGT tính trên toàn bộ doanh thu – 1,2 tỷ × 1% = 12 triệu đồng. Nguyên tắc “chỉ tính phần vượt” mới thực hiện được ở thuế TNCN.

Ở nhóm vừa vượt ngưỡng, phần GTGT chiếm khoảng 92% – 94% tổng nghĩa vụ thuế, gần như đồng đều giữa các ngành. Tỷ trọng này giảm dần khi doanh thu tăng: ở mức 3 tỷ đồng, ngành phân phối hàng hóa còn khoảng 75%.

Ở chiều ngược lại, có một kỹ thuật Việt Nam làm tốt hơn: khoản 3 Điều 4 Nghị định 68/2026/NĐ-CP cho phép cá nhân có nhiều ngành nghề hoặc nhiều địa điểm kinh doanh tự chọn phương án phân bổ mức trừ có lợi nhất – trừ ngưỡng vào ngành có tỷ lệ thuế TNCN cao nhất trước, miễn tổng mức trừ không vượt quá ngưỡng năm; khoản 4 quy định tương tự cho nhiều hợp đồng cho thuê bất động sản. Trung Quốc không có cơ chế tương đương, đơn giản vì ngưỡng của họ gắn với tổng doanh thu của kỳ chứ không gắn với ngành nghề, nên không có gì để phân bổ.

3.2. Việt Nam chọn trung lập, Trung Quốc chọn ưu đãi có thời hạn

Đề xuất “cho hộ tự nguyện chuyển sang tính thuế theo lợi nhuận” thường xuất hiện trong các thảo luận chính sách thực ra đã thành luật từ kỳ tính thuế 2026: hộ doanh thu trên 1 tỷ đến 3 tỷ được lựa chọn, hộ trên 3 tỷ bắt buộc, với biểu thuế suất trùng khớp thuế TNDN.

Trung Quốc đi hướng khác: giữ biểu lũy tiến 5% – 35% nhưng giảm một nửa nghĩa vụ cho phần thu nhập chịu thuế đến 2 triệu NDT, với thời hạn đến hết 2027. Đây là công cụ kích thích có mục tiêu và có ngày hết hiệu lực. Hai lựa chọn phản ánh hai triết lý: Việt Nam ưu tiên tính trung lập giữa các hình thức kinh doanh, Trung Quốc ưu tiên tính linh hoạt theo chu kỳ kinh tế. Không có phương án nào hiển nhiên đúng hơn, nhưng Việt Nam đã trả giá để đạt được trung lập, nên việc nhập khẩu công cụ ưu đãi của Trung Quốc lúc này sẽ phá hỏng chính thành quả đó – lý do được phân tích ở phần “Điều không nên làm”.

3.3. Hộ Việt Nam đứng ngoài chuỗi khấu trừ

Đây là khác biệt có tác động kinh tế lớn nhất. Chuỗi pháp lý gồm ba mắt xích, đều trong Luật Thuế GTGT 48/2024: khoản 2 Điều 11 loại hộ, cá nhân kinh doanh khỏi phương pháp khấu trừ – cụm loại trừ xuất hiện ở cả điểm a (đủ điều kiện doanh thu) và điểm b (tự nguyện đăng ký), nên hộ bị chặn kể cả khi muốn tự nguyện; điểm c khoản 2 Điều 12 xác định doanh thu tính thuế của hộ là số tiền ghi trên hóa đơn bán hàng; Điều 14 đặt điều kiện khấu trừ đầu vào là phải có hóa đơn GTGT. Kết quả tất yếu: bên mua là doanh nghiệp không có gì để khấu trừ.

Minh họa với lô hàng giá vốn 70, thuế suất GTGT 10%, ở mức giá mà bên mua bàng quan giữa hai nhà cung cấp:

Bán cho doanh nghiệp (B2B) Bán cho người tiêu dùng (B2C)
Nhà cung cấp là công ty Xuất 100 + 10 GTGT. Bên mua khấu trừ 10, chi phí thực 100. Giá vốn 70 (đã khấu trừ đầu vào 7). Lãi gộp 30 Phải thu 110 của người tiêu dùng để giữ lãi gộp 30
Nhà cung cấp là hộ kinh doanh Xuất hóa đơn bán hàng 100. Bên mua khấu trừ 0. Giá vốn thực 77 (thuế đầu vào 7 không khấu trừ được), nộp GTGT 1%. Lãi gộp 22 Thu 110 thì lãi gộp ≈ 31,9; hoặc hạ giá xuống 105 vẫn còn lãi ≈ 27 và thắng về giá

Giả định: ngành phân phối hàng hóa (tỷ lệ GTGT 1%), đầu vào mua từ nhà cung cấp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ nên có thuế GTGT đầu vào 7. Nếu hộ mua đầu vào từ một hộ kinh doanh khác – không phát sinh thuế đầu vào – thì khoảng cách thu hẹp còn khoảng 1 điểm; nghĩa là thiệt hại tỷ lệ thuận với mức độ hộ tham gia vào chuỗi cung ứng chính thức.

Con số nói lên bản chất: hộ kinh doanh thiệt khoảng 8 điểm lợi nhuận gộp trên 100 doanh thu khi cạnh tranh trực tiếp ở phân khúc B2B, do vừa mất quyền khấu trừ đầu vào của chính mình, vừa làm bên mua mất quyền khấu trừ. Nhưng ở phân khúc B2C, nơi người mua cuối không cần hóa đơn khấu trừ, hộ lại có lợi thế rõ rệt vì chỉ nộp 1% – 5% trên doanh thu thay vì 10% đầu ra.

Vì vậy cần nói cho đúng: đây không phải một sơ suất lập pháp mà là một đánh đổi có chủ ý – cấu trúc thuế hiện hành định vị hộ kinh doanh vào phân khúc B2C và tạo áp lực để hộ quy mô lớn chuyển đổi lên doanh nghiệp. Vấn đề nằm ở chỗ khác: đánh đổi đó không có van thoát. Một hộ đã đạt quy mô, đã có sổ sách, đã dùng hóa đơn điện tử và thực sự làm B2B vẫn không được phép tự nguyện bước vào chuỗi khấu trừ. Trung Quốc giải bài toán này bằng cách cho người nộp thuế quy mô nhỏ – bao gồm hộ cá thể – được tự phát hành hóa đơn GTGT chuyên dụng (增值税专用发票) kể từ đợt mở rộng năm 2019, với nguyên tắc bên mua chỉ khấu trừ đúng bằng mức thu ghi trên hóa đơn.

Chồng hồ sơ chứng từ kế toán – chi phí tuân thủ khi hộ kinh doanh chuyển từ khoán sang kê khai theo sổ sách
Chuyển sang tính thuế trên lợi nhuận đồng nghĩa với nghĩa vụ chứng từ đầu vào – rào cản thật sự với hộ sản xuất và F&B. Ảnh: Alexas_Fotos / Pixabay.

4. Doanh nghiệp mua hàng của hộ kinh doanh cần lưu ý gì

Mất khấu trừ GTGT không đồng nghĩa với mất chi phí tính thuế TNDN. Hóa đơn bán hàng của hộ kinh doanh vẫn là hóa đơn hợp pháp. Khoản chi vẫn được trừ khi tính thuế TNDN nếu phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, có hóa đơn hợp pháp và đáp ứng điều kiện chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo ngưỡng hiện hành của pháp luật thuế TNDN. Đây là điểm nhiều bộ phận mua hàng hiểu sai và từ chối nhà cung cấp là hộ kinh doanh một cách không cần thiết.

Hóa đơn từ máy tính tiền là chứng từ đủ điều kiện. Điểm c khoản 9 Điều 8 Nghị định 254/2026/NĐ-CP khẳng định khoản chi mua hàng hóa, dịch vụ sử dụng hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền – tra cứu được trên Hệ thống thông tin quản lý thuế – được xác định là khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp khi xác định nghĩa vụ thuế. Hóa đơn loại này không bắt buộc có chữ ký số (điểm b cùng khoản), nên không nên loại chứng từ chỉ vì lý do đó.

Rà soát tình trạng hóa đơn của nhà cung cấp là hộ kinh doanh. Nếu nhà cung cấp có doanh thu năm trên 1 tỷ đồng nhưng vẫn xin cấp hóa đơn theo từng lần phát sinh thay vì đăng ký hóa đơn điện tử, đó là dấu hiệu cần làm rõ trước khi hạch toán. Với hợp đồng dài hạn, nên đưa vào điều khoản cam kết về loại hóa đơn và thời điểm lập hóa đơn.

Khi nào nên yêu cầu nhà cung cấp chuyển lên mô hình doanh nghiệp. Phép thử đơn giản: so sánh mức chiết khấu hộ kinh doanh có thể chào với phần thuế GTGT bị mất (8% hoặc 10% trên giá chưa thuế trong năm 2026, do chính sách giảm 2% thuế suất còn hiệu lực đến hết 31/12/2026). Nếu chiết khấu thấp hơn phần thuế mất đi, việc mua từ hộ đang làm tăng chi phí thực. Với giá trị mua lớn và ổn định, đề nghị nhà cung cấp chuyển đổi lên doanh nghiệp thường có lợi cho cả hai bên – và phù hợp với định hướng chính sách hiện nay.

5. Năm kiến nghị, xếp theo tỷ lệ lợi ích trên chi phí

Kiến nghị Cấp văn bản Lập luận
Cho hộ kinh doanh tự nguyện đăng ký phương pháp khấu trừ – bỏ cụm “trừ hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh” tại điểm b khoản 2 Điều 11 Luật Thuế GTGT, kèm điều kiện sổ sách và hóa đơn điện tử Sửa Luật GTGT Giải quyết đồng thời cả hai vấn đề: bất lợi B2B và vách đá vượt ngưỡng. Cơ chế tự chọn lọc – chỉ hộ thực sự làm B2B mới đăng ký, hộ bán lẻ giữ nguyên tỷ lệ % có lợi hơn. Hạ tầng đã sẵn sàng: khoản 4 Điều 10 Nghị định 254/2026 đã có sẵn trường dữ liệu giá chưa thuế, thuế suất và tiền thuế trên hóa đơn từ máy tính tiền. Rào chắn cần thiết: giới hạn ở quyền khấu trừ, chưa mở quyền hoàn thuế; ràng buộc thời gian áp dụng tối thiểu để tránh vào ra theo mùa vụ; và điều kiện tiên quyết là đã sử dụng hóa đơn điện tử cùng chế độ kế toán đầy đủ.
Cảnh báo doanh thu thời gian thực tại mốc 80% – 90% – 100% ngưỡng Nghiệp vụ, làm ngay Cơ quan thuế đã nắm dữ liệu hóa đơn từ máy tính tiền theo thời gian thực. Triển khai qua eTax Mobile, gần như không phát sinh chi phí, và trực tiếp hỗ trợ mốc đăng ký hóa đơn 30 ngày.
Bảng đối soát doanh thu – hóa đơn – thuế dự kiến miễn phí Nghiệp vụ, làm ngay Hộ cần nhìn thấy số liệu cơ quan thuế đang ghi nhận về mình trước kỳ quyết toán 31/3. Giảm sai lệch và giảm tranh chấp về sau.
Chính sách khoan dung công bố trước cho sai sót kỹ thuật năm đầu Nghị định / thông tư Khoản 5 Điều 17 Nghị định 68/2026 đã đặt nền tảng tốt khi không dùng doanh thu 2026 để xác định lại nghĩa vụ các năm khoán trước và không xử phạt. Cần cơ chế tương tự, công bố rõ ràng, cho sai sót về thời điểm lập hóa đơn và mã hàng hóa trong năm chuyển đổi.
Nếu chưa sửa được Điều 11: áp dụng nguyên tắc “chỉ tính phần vượt” cho thuế GTGT Sửa Luật GTGT Giải pháp hạng hai và cần nói rõ như vậy. Thông lệ VAT quốc tế dùng ngưỡng đăng ký nhị phân chứ không dùng mức trừ, bởi khi vượt ngưỡng người nộp thuế được bù lại bằng quyền khấu trừ đầu vào. Ở Việt Nam quyền đó không tồn tại, nên vách đá mới lộ ra. Xử lý gốc là mở quyền khấu trừ; “trừ ngưỡng” chỉ là biện pháp giảm đau.

Lưu ý kỹ thuật về mô hình Trung Quốc: nếu chọn phương án cho hộ giữ cách tính theo tỷ lệ % nhưng vẫn được phát hành hóa đơn phục vụ khấu trừ, phải quy định rõ bên mua chỉ được khấu trừ đúng bằng số thuế ghi trên hóa đơn theo tỷ lệ hộ đã nộp (1%, 3% hoặc 5%), không phải thuế suất phổ thông 8% hay 10%. Thiếu ràng buộc này, chênh lệch giữa số nộp và số khấu trừ sẽ trở thành động cơ mua bán hóa đơn quy mô lớn.

6. Ba điều không nên làm

Không nâng ngưỡng lên tương đương 5 triệu NDT. Con số 19,4 tỷ đồng đặt cạnh quy mô doanh nghiệp Việt Nam là không hợp lý: nó sẽ đưa phần lớn doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ vào diện hộ kinh doanh và tạo động cơ ngược cho việc chuyển đổi lên mô hình công ty.

Không sao chép chính sách giảm 50% thuế TNCN của Trung Quốc. Đây là điểm dễ bị đề xuất nhất và cũng là điểm cần từ chối dứt khoát. Việt Nam vừa đưa thuế suất của hộ kinh doanh về trùng khớp thuế TNDN – 15%, 17%, 20% theo cùng mốc doanh thu – và hộ vốn đã chỉ chịu một tầng thuế. Giảm thêm một nửa nghĩa vụ cho hộ mà không giảm cho doanh nghiệp sẽ đẩy thuế suất hiệu dụng ở nhóm dưới 3 tỷ xuống còn 7,5% so với 19,25% của chủ doanh nghiệp sau khi rút lợi tức, biến hình thức hộ kinh doanh thành lựa chọn tối ưu về thuế và triệt tiêu động cơ chuyển đổi lên doanh nghiệp – đúng mục tiêu mà cả gói cải cách đang theo đuổi. Công cụ này phù hợp với Trung Quốc vì hộ cá thể ở đó chịu biểu lũy tiến lên tới 35%, cao hơn nhiều mức thuế doanh nghiệp phổ thông 25%; bối cảnh Việt Nam ngược lại.

Không biến biên lợi nhuận ngành thành mức ấn định cứng. Bảng biên lợi nhuận tham chiếu nên dùng làm công cụ phân tích rủi ro tại bàn và để hộ tự đối chiếu. Biến nó thành mức khoán là quay lại đúng cơ chế vừa được đẩy xuống vai trò dự phòng.

7. Lộ trình theo đúng cấp văn bản

Làm được ngay, không cần sửa văn bản. Cảnh báo ngưỡng thời gian thực, bảng đối soát miễn phí trên eTax Mobile, và hướng dẫn chi tiết về chi phí được trừ khi hộ áp dụng phương pháp thu nhập – đặc biệt là ranh giới giữa chi phí kinh doanh và chi phí gia đình theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 68/2026.

Cấp nghị định, thông tư. Chính sách khoan dung có công bố cho sai sót hóa đơn năm đầu chuyển đổi, và chuẩn dữ liệu mở để phần mềm máy tính tiền của các nhà cung cấp khác nhau cùng đáp ứng một định dạng.

Cấp Quốc hội, đưa vào chương trình sửa Luật Thuế GTGT. Cả hai kiến nghị lớn nhất đều nằm ở tầng này và không thể xử lý bằng nghị định. Điều 2 Luật số 09/2026/QH16 vừa sửa khoản 25 Điều 5 Luật Thuế GTGT nhưng chỉ ủy quyền cho Chính phủ quy định mức doanh thu, trong khi vẫn giữ nguyên cấu trúc “đối tượng không chịu thuế” – Chính phủ được đổi con số, không được đổi cơ chế. Tương tự, quyền khấu trừ bị chặn ngay tại khoản 2 Điều 11 của Luật.

Chợ hoa Hà Nội – khu vực hộ kinh doanh cá thể trong nền kinh tế Việt Nam
Mục tiêu cuối cùng của cải cách không phải thu thêm thuế từ hộ nhỏ, mà là đưa họ vào chuỗi giá trị chính thức. Ảnh: trongdat15 / Pixabay.

8. Kết luận

Trên trục phương pháp tính thuế, Việt Nam đi trước: khoán đã bị đẩy xuống vai trò dự phòng, thuế trên lợi nhuận đã vào luật, và biểu thuế suất đã trùng khớp thuế thu nhập doanh nghiệp. Trung Quốc vẫn duy trì ấn định định kỳ định mức như một lựa chọn thông thường cho hộ siêu nhỏ. Phần việc còn lại của Việt Nam nằm ở cơ sở tính thuế chứ không còn ở thuế suất.

Trên trục thiết kế kỹ thuật, Trung Quốc đi trước ở hai điểm: ngưỡng gắn với kỳ tính thuế nên giới hạn được thiệt hại của một lần vượt ngưỡng, và hộ cá thể được phép bước vào chuỗi khấu trừ thay vì bị chặn tuyệt đối.

Điều đáng làm nhất không phải nhập khẩu một con số hay một gói ưu đãi, mà là mở van thoát cho những hộ đã đủ điều kiện: cho phép hộ kinh doanh có sổ sách và hóa đơn điện tử tự nguyện đăng ký phương pháp khấu trừ. Một sửa đổi ở khoản 2 Điều 11 Luật Thuế GTGT xử lý được cả bất lợi cạnh tranh trong giao dịch B2B lẫn vách đá thuế GTGT khi vượt ngưỡng, mà không cần thêm bất kỳ ưu đãi ngân sách nào.

Căn cứ pháp lý

Việt Nam: Luật Thuế Giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 (khoản 25 Điều 5, Điều 11, Điều 12, Điều 14); Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 (Điều 10); Luật Thuế Thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 (Điều 7); Luật số 09/2026/QH16 ngày 24/4/2026 sửa đổi bốn luật thuế, hiệu lực đối với các điều 1, 2 và 3 từ 01/01/2026; Nghị định 68/2026/NĐ-CP ngày 05/3/2026; Nghị định 141/2026/NĐ-CP ngày 29/4/2026 (hiệu lực 01/01/2026) sửa cụm “500 triệu đồng” thành “01 tỷ đồng” tại Điều 3, Điều 4, khoản 1 Điều 8, Điều 9, Điều 10, khoản 3 Điều 11, khoản 1 và khoản 2 Điều 12, khoản 4 Điều 17, khoản 3 Điều 18 Nghị định 68/2026/NĐ-CP; Nghị định 320/2025/NĐ-CP (khoản 15 Điều 4, bổ sung bởi Điều 2 Nghị định 141/2026); Nghị định 254/2026/NĐ-CP và Thông tư 91/2026/TT-BTC về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử (hiệu lực 01/7/2026); Thông tư 18/2026/TT-BTC; Nghị quyết 204/2025/QH15 và Nghị định 174/2025/NĐ-CP về giảm 2% thuế suất thuế GTGT đến hết 31/12/2026.

Trung Quốc: Luật Thuế Giá trị gia tăng nước CHND Trung Hoa và Điều lệ thi hành (hiệu lực 01/01/2026); Công bố của Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế số 10 năm 2026 ngày 30/01/2026 về kết nối chính sách ưu đãi thuế GTGT sau khi Luật Thuế GTGT có hiệu lực; Công bố của Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế số 12 năm 2023 về chính sách thuế, phí hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ cá thể; Công bố của Tổng cục Thuế số 8 năm 2019 về mở rộng phạm vi thí điểm người nộp thuế quy mô nhỏ tự phát hành hóa đơn GTGT chuyên dụng; Công bố của Tổng cục Thuế số 11 năm 2024 về triển khai hóa đơn điện tử số hóa toàn phần.

Bài viết là phân tích chính sách trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tại thời điểm 04/9/2026, không thay thế tư vấn thuế cho một trường hợp cụ thể. Tỷ giá quy đổi chỉ mang tính minh họa quy mô, không tạo ngưỡng pháp lý tương đương. Doanh nghiệp và hộ kinh doanh nên đối chiếu với hướng dẫn của cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước khi áp dụng.

Lê Huy Thành
Nhà sáng lập LT Group

LT Advisory Việt Nam (LTA) cung cấp dịch vụ kiểm toán, kế toán, tư vấn thuế, giá giao dịch liên kết và thẩm định giá cho doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Để trao đổi về việc lựa chọn phương pháp tính thuế cho hộ kinh doanh, rà soát nghĩa vụ hóa đơn theo Nghị định 254/2026/NĐ-CP, hoặc đánh giá rủi ro khi mua hàng từ nhà cung cấp là hộ kinh doanh, vui lòng liên hệ:

Điện thoại: 0976 960 808
Email: thanh.lh@ltgroup.com.vn
Văn phòng: Tầng 14, Tòa Việt Á, số 09 Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội
Website: ltgroup.com.vn